Monthly Archives: January 2020

Những lưu ý khi nuôi tôm trái vụ

Cuối năm 2013 và những tháng đầu năm 2014 tình hình giá cả tôm thương phẩm trên thị trường tăng cao do nhu cầu tiêu thụ của người dân trong dịp tết nguyên đán tăng cao và các doanh nghiệp muốn mua thu tôm nguyên liệu dự trữ để ra tết có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động. tag: bệnh tôm chết sớm

Theo công văn số 3426/SNN-TS ngày 11/12/2013 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc hướng dẫn khung lịch thời vụ nuôi trồng thủy sản năm 2014 trên địa bàn tỉnh thì khuyến cáo bà con nông dân nuôi trồng thủy sản một năm chỉ nên nuôi 2 vụ tôm, thời gian còn lại là để cải tạo ao nuôi và lấy nước vào ao lắng để phục vụ cho các vụ tiếp theo. Vụ 1 thường thả giống đầu tháng 3 đến tháng 7, vụ 2 thả từ đầu tháng 8 thời gian gần tết và ra ngoài tết không nên thả để và cải tạo ao để chuẩn bị lấy nước vào ao nuôi vụ mới.

Tuy nhiên người dân thường hay thả vụ phụ (thả giống sau noel 25/12) để kiếm thêm thu nhập và giá tôm vụ phụ thường cao hơn 2 vụ chính. Việc thả nuôi vụ phụ gặp rất nhiều rủi do nên bà con nông dân cần lưu ý một số vấn đề sau:

Những tháng cuối năm 2013, các chứa nước thường xã nước để bà con nông dân lấy nước làm nông nghiệp vụ thu đông nên việc lấy nguồn nước mặn gặp rất nhiều khó khăn. Nếu xác định nuôi thì phải lấy nguồn nước mặn thời gian trước đó vào ao lắng để dự trữ trước. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Thời điểm cuối năm chênh lệch nhiệt độ trong ngày thường cao nên dễ phát sinh dịch bệnh. Đặc biệt là thời điểm cuối tháng 12, nhiệt độ thường khá thấp (có thể dưới 200C) nếu không có biện pháp chăm sóc và phòng bệnh tốt cho tôm sẽ rất dễ dẫn đến thất bát vụ nuôi.

Vì không có nguồn nước mặn để thay nước trong ao liên tục, nên bà con nông dân cần phải tăng cường sục khí cho ao nuôi, khi cho ăn phải bổ xung các vitamin C để cho tôm ăn.

 
Trước khi nuôi thì bà con bên xử lý đáy ao thật kỹ, xừ lỷ nguồn nước qua hệ thống lắng, lọc trước khi đưa vào ao nuôi. Bà con nên xác định mật độ thả trong vụ phụ này phải thưa khoảng 40 – 60 con/m2 là thích hợp. Nếu nuôi mật độ dày quá thì càng sang các tháng tiếp theo do nguồn nước không được thay liên tục nên nhu cầu oxy không đáp ứng đu nên thường hay xảy ra tình trạng nhiều ao tôm rớt đáy liên tục.

Cần kiểm soát các chỉ số của môi trường nước đặc biệt là lượng oxy hòa tan, độ mặn, độ Ph và theo dõi, chăm sóc tôm nuôi kĩ hơn so với thời điểm nuôi thông thường trong năm.

Trong điều kiện hạn chế về tài chính, biện pháp giảm bớt độ lạnh vào thời điểm cuối tháng 12 cho ao nuôi là ngoài lưới che phủ chống chim cò, có thể phủ thêm một lớp lưới phủ nông nghiệp. tag: sục khí đáy ao

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhung-luu-y-khi-nuoi-tom-trai-vu-5c247e16425cc51249bb6215.html

Mô hình thích hợp để ương ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu này của Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải 2018 nhằm xác định mô hình ương thích hợp cho sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: bệnh tôm chết sớm

Tôm sú bố mẹ. Ảnh minh họa: Internet

Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững và đánh giá năng suất để tìm ra mô hình sản xuất giống đạt hiệu quả cao và chất lượng tôm giống được cải thiện, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định mô hình ương ấu trùng tôm sú thích hợp cho tăng trưởng, tỷ lệ sống và nâng cao chất lượng tôm giống.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.

Các nghiệm thức thí nghiệm bao gồm:

(1) Ương ấu trùng theo mô hình tuần hoàn (MHTH)

(2) Ương ấu trùng theo mô hình thay nước (MHTN)

(3) Ương ấu trùng theo mô hình sử dụng chế phẩm yucca (CPY)

(4) Ương ấu trùng theo mô hình ứng dụng công nghệ biofloc (CNB).

Thí nghiệm được bố trí trong nhà kính có mái tole sáng và tole tối xen kẽ. Bể được sử dụng trong thí nghiệm là bể composite 0,5 m3; nước ương có độ mặn 30‰, độ kiềm 120 mg CaCO3/L và mật độ 150 con/L. Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis-1, thì bắt đầu vận hành hệ thống tuần hoàn và các nghiệm thức còn lại bắt đầu thay nước, đối với nghiệm thức biofloc thì bổ sung carbohydrate từ rỉ đường với tỷ lệ C:N = 30:1 và sử dụng Vimeyucca đối với nghiệm thức sử dụng CPY với lượng 10 mL/m3/3 ngày. Đối với nghiệm thức tuần hoàn, hệ thống tuần hoàn được sử dụng vật liệu lọc là các hạt giá thể nhựa, được rửa sạch và cho vào bể lọc. Bể lọc có thể tích 0,4 m3 (chứa 0,25 m3 giá thể lọc) và được kết nối với hệ thống ương gồm 3 bể (0,5 m3/bể).

Cho ấu trùng ăn: 

• Thức ăn cho ấu trùng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu trùng, khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea-1 khoảng 90% thì tiến hành cho ăn tảo Chaetoceros sp với mật độ 70.000-100.000 tế bào/mL (cho ăn 8 lần/ngày: 6, 9, 12, 15, 18, 21, 24 và 3h).

• Trong lần cho ăn đầu tiên (giai đoạn Zoea-1) tiến hành bổ sung men tiêu hóa Antibio-pro cho ấu trùng sau khi cho ăn tảo tươi lần đầu tiên với lượng 1g/m3/lần.

• Giai đoạn Zoea-2 cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-1), với lượng từ 1-2 g/m3/ngày. Giai đoạn Mysis cho ăn thức ăn tổng hợp (50% Lansy ZM + 50% Frippak-2) và Artemia bung dù (lượng thức ăn tổng hợp từ 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù là 2 g/m3/lần).

• Giai đoạn PL thì cho ăn thức ăn tổng hợp (Frippak-150) với lượng 5-6 g/m3/ngày và Artemia mới nở với lượng 2 g/m3/lần. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Trong tất cả các nghiệm thức, ấu trùng được cho ăn với lượng thức ăn và số lần cho ăn giống nhau (8 lần/ngày). Khi ấu trùng chuyển sang Mysis, cho ăn 4 lần/ngày đối với thức ăn tổng hợp (6, 12, 18 và 24h) và 4 lần/ngày đối với Artemia (3, 9, 15 và 21h). Đối với nghiệm thức ương tuần hoàn, tắt hệ thống tuần hoàn trước và sau khi cho ăn 30 phút thì cho hệ thống tuần hoàn hoạt động trở lại. Định kỳ 3 ngày/lần, thay nước 30% lượng nước trong bể ương (nghiệm thức thay nước), sử dụng Vime-Yucca với liều 10 mL/m3  (nghiệm thức CPY), bón rỉ đường (nghiệm thức biofloc) và đối với nghiệm thức tuần hoàn thì không thay nước trong suốt quá trình ương.

Cách tạo biofloc:

Bổ sung nguồn carbohydrate từ mật rỉ đường và được bổ sung trực tiếp vào bể ương từ giai đoạn Mysis 1. Phương thức bổ sung mật rỉ đường dựa theo hàm lượng protein trong thức ăn tổng hợp, rỉ đường được bổ sung 3 ngày/lần, lượng carbohydrate trong mật rỉ đường là 46,7%. Cách tính hàm lượng carbon cần bổ sung để đạt được tỷ lệ C:N = 30:1 như sau:

CTA = 50% x lượng thức ăn bổ sung vào 

NTA = % Protein x 16% x lượng thức ăn bổ sung vào

CBS = 30 x NTA- CTA 

Trong rỉ đường có 46,7% lượng carbon

Lượng rỉ đường cần bón = CBS x 100/46,7 

Trong đó:

CTA : là lượng carbon có trong thức ăn

CBS : là lượng carbon cần bổ sung vào hệ thống

NTA : là lượng nitrogen có trong thức ăn

50% : là lượng carbon có trong thức ăn chiếm 50%

0,16 : là lượng nitrogen chiếm 16% trong protein

30 : là tỉ lệ C:N cần cung cấp

Kết quả:

Trong suốt quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ kiềm, TAN, nitrite và mật độ vi khuẩn ở các nghiệm thức đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng và tôm post. Ương ấu trùng tôm sú trong các hệ thống như: tuần hoàn, CPY, thay nước và biofloc, chất lượng của tôm PL thu được đều đạt kết quả tốt như nhau. Tuy nhiên ương ấu trùng tôm sú trong hệ thống tuần hoàn và mô hình sử dụng chế phẩm yucca CPY thì tôm tăng trưởng nhanh (PL10: 9,58 – 9,60 mm), đạt tỷ lệ sống (43,9 – 51,8%) và năng suất cao (77.089 – 86.746 PL10/m3).

Từ nghiên cứu trên cung cấp cho người nuôi những hệ thống ương ấu trùng tôm sú hiệu quả có thể áp dụng vào thực tiễn. tag: sục khí đáy ao

Trích dẫn: Trần Ngọc Hải và Lê Quốc Việt, 2018. Thực nghiệm ương ấu trùng tôm sú (Penaeus monodon) với các mô hình khác nhau.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mo-hinh-thich-hop-de-uong-au-trung-tom-su-5df9995c425cc5e5233aa645.html